2015/11/06 Bình luận : Lượt xem: 2416
Kế toán Mỹ về đầu tư chứng khoán 2015 tài liệu ebook đáng để cho chúng ta quan tâm. Hiện nay chứng khoán thì Mỹ đứng đầu thế giới.

Kế toán Mỹ về đầu tư chứng khoán


KẾ TOÁN VỀ ĐẦU TƯ CHƯNG KHOÁN ( Accounting for stock Investments) 

Các nguyên tắc kế toán Mỹ thường được chấp nhận  GAAP (Generally Accepted Accounting Principles) cho ghi vào sổ sách các việc mua  cổ phần thường, đòi hỏi rằng đầu tư phải được ghi theo phí tổn của nó.Phương châm cơ bản lượng định phí tổn mua cổ phiếu trong liên kết thaeo cách mua cũng áp dụng cho đầu tư cổ phiếu ít hơn 50% cổ phiếu bầu cử của một công ty khác. Phí đầu tư gồm tiền giải ngân (disbursed); giá trị công bằng của tài sản thêm khác hay phát hành cổ phiếu; và phí tổn trực tiếp thêm để đạt được đầu tư, khác hơn là phí tổn đăng ký và phát ành cổ phiếu, phí nầy tính cho vốn góp bổ sung.


    Một trong 2 phương pháp cơ bản về kế toán về đầu tư cổ phiếu thường , không hiện hành , thường được áp dụng – phưong pháp tính giá trị công bằng hay phương pháp tính giá  theo giá  trị 
ròng (equity method). Nếu phương pháp tính giá trị công bằng được dùng, thì đầu tư được coi như theo các điều khoản của FASB Statement No 115 “Kế toán về Đầu tư cố định (certain investments) vào cổ phiếu và trái phiếu” (Debt and Equity Securities). Nếu áp dụng phương pháp tính giá theo giá trị ròng, thì đầu tư được coi như theo các điều khoản của APB Opinion No 18,” Phương pháp tính giá theo giá 

trị ròng của kế toán về đầu tư cổ phiếu”, được sửa đổi bởi FASB Stement No 94,”Hợp nhất tất cả các công ty con do đa số làm chủ” ( majority-owned subsidiaries).

Quan điểm chủ đạo của phương pháp tính giá trị công bằng / phí tôn và phương pháp tính giá theo giá trị ròng ( Consepts underlying Fair Value / Cost and Equity Methods )

Theo phương pháp tính giá trị công bằng / phí tổn ( cũng gọi là phương pháp tính phí tổn ), các đầu tư vào cổ phiếu thường được vào sổ là phí tổn, và cổ tức từ doanh lợi tiếp sau (subsequent earnings) được báo cáo là lợi tức cổ tức ( divident income). Ở đây có một ngoại lệ. Cổ tức nhận được trong phần vượt của phần doanh lợi của nhà đầu tư sau khi mua cổ phiếu được coi như các món hoàn vốn ( returns of capital) (hay thanh toán cổ tức, liquidating dividents) và được vào sổ như những món giảm trong tài khoản đầu tư. Cổ phiếu nào đã hiện xác định được giá trị công bằng được xếp vào hoặc là cổ phiếu thương mại (trading securities) (cổ phiếu mua và giữ để bán lại trong kỳ hạn gần ) hay cổ phiếu sẳn sàng bán (available-for-sale securities) (những đầu tư không xếp vào cổ phiếu thương mại) theo các điều khoản của FASB Statement No 115 “Kế toán cho Đầu tư cố dịnh trong cổ và trái phiếu”. Hai phân loại về cổ phiếu nầy nầy được kết chuyển theo giá trị công bằng của chúng và báo cáo các lợi nhuận, lỗ, vá cổ tức như là doanh lợi. Tuy nhiên, các lợi nhuận và lỗ chưa thực hiện (unrealized gains and losses) do phân loại cổ phiếu-thương mại (trading-securities classification) thì được gồm trong doanh lợi. Còn các lợi nhuận và lỗ chưa thực hiện do phân loại cổ phiếu-sẳn sàng bán thì dược báo cáo theo một tài khoản ròng như là hạng mục riêng biệt là lợi tức tổng hợp khác (comprehensive income). FASB Statement 130 cho phép lợi tức tổng hợp khác được báo cáo hoặc là trên báo cáo lợi tức, như là một báo cáo riêng rẻ về lợi tức tổng hợp, hay trong một báo cáo về mọi thay đổi trong cổ phần. Các con số nầy được tích luỹ trong đoạn về cổ phần trong bảng cân đối ở trong mục tài khoản tựa là lợi tức tổng hợp khác tích luỹ ( accumulated other comprehensive income). FASB Statement No 115 không áp dụng cho đầu tư cổ phiếu theo phương pháp tính giá theo giá trị ròng (equity method) hay cho đầu tư trong các công ty con hợp nhất


Phương pháp kế toán tính giá theo giá trị ròng thực ra là loại kế toán tính trước (accrual accounting) về đầu tư cổ phiếu khiến cho nhà đầu tư có thể có ảnh hưởng mạnh đối với hảng xưởng được đầu tư. Theo phương pháp tính giá theo giá trị ròng nầy, các vụ đầu tư được vào sổ tại phần phí tổn và điều chỉnh đối với doanh lợi, lỗ lã, và cổ tức. Công ty đầu tư báo cáo cổ phần đầu tư thuộc doanh lợi của bên bị đầu tư như là lợi tức đầu tư còn cổ phần lỗ của bên bị đầu tư như lỗ của đầu tư. Tài khoản đầu tư gia tăng đối với lợi tức đầu tư và giảm đối với lỗ đầu tư. Cổ tức nhận từ các xí nghiệp được đầu tư được coi như là giảm đàu tư (disinvestments) theo phương pháp tính giá theo giá trị ròng, và được vào sổ như là khoản giảm trong tài khoản đầu tư. Do đó, lợi tức đầu tư theo phương pháp tính giá theo gía trị ròng phản ánh cổ phần của bên đầu tư về lãi ròng của bên được đầu tư và tài khoản đầu tư phản ánh cổ phần bên đầu tư về tài sản ròng của bên được đầu tư.


Một cuộc đầu tư vào cổ phần được bầu cử nào mà khiến cho bên đầu tư có được ảnh hưởng lớn đối với chánh sách hoạt động và tài chánh của bên được đầu tư thì được coi áp dụng phương pháp kế toán tính giá theo giá tri ròng. Điều nầy được giải thích trong đoạn 17 của APB Opinion No 18:

    Ban Nguyên tắc Kế toán (APB) kết luân rằng phương pháp kế toán tính giá theo giá trị ròng áp dụng cho đầu tư    vào cổ phiếu thường nên ... được tuân theo bởi  nhà đầu tư vào cổ phiếu bầu cử , cuộc đầu tư nầy khiến cho bên đầu tư có ảnh hưởng lớn đối với các chánh sách hoạt động và tài chánh của bên được đầu tư cho dù nhà đầu tư chỉ giữ 50% hay ít hơn cổ phiếu bầu cử. 
    
    Cái khả năng khiến có được ảnh hưởng lớn dựa vào kiểm nghiệm quyền sở hữu 20% (a 20% ownership test) như một khoản trong APB :

Một cuộc đầu tư (trực tiếp hay gián tiếp) 20% hay hơn của cổ phiếu bầu cử của bên được đầu tư  nên hướng đến một giả định rằng bên đầu tư có khả năng sử dụng ảnh hưởng lớn đối với bên được đầu tư mà không một điều nào nói nghịch lại. Đổi lại, một đầu tư ít hơn 20%số cổ phiếu bầu cử của bên được đầu tư nên hướng đến một giả định rằng bên đầu tư không có được khả năng ảnh hưởng mạnh trừ phi chứng minh có được khả năng nầy.

Một nhà đầu tư có thể có ảnh hưởng mạnh đối với bên được đầu tư của mình với một lợi nhuận đầu tư ít hơn 20%, theo Opinion No 18. Đoạn ghi sau đây trích từ Báo cáo hàng năm của công ty Ameritech năm 1994 (trang 41) là một thí dụ về ngoại lệ:

Vào ngày 22-12-1993, công ty đầu tư $437.5 triệu cho 15% cổ phần trong công ty điện thoại Hungaria MATAV. Đầu tư của công ty được coi như thep phương pháp kế toán tính giá theo giá trị ròng, vì lẽ công ty được hành sử ảnh hưởng mạnh các hoạt đông của công ty điện thoại. Tài sản vô thể ước luợng là $210 triệu dược khấu trừ  theo phương pháp đường thẳng trong vòng 40 năm.

Phương pháp tính giá theo giá trị ròng không đựoc áp dụng nếu khả năng ảnh hưởng của bên đầu tư là tạm thời hay khi bên được đầu tư là các công ty nước ngoài hoạt động dưới các kiểm soát và hạn chế hối đoái nghiêm nhặt ( severe exchange restrictions). Một đoạn trong Báo cáo hàng năm của công ty  Ameritech  năm1994 (trang 40) tiết lộ như sau:

Vào ngày 12-9-1990, công ty Ameritech và công ty Bell Atlantic mua tất cả cổ phiếu của công ty Telecom     Corporation của New Zealand (gọi là New Zealand Telecom),đây là một công ty sở hữu nhà nước với giá lối $2.5 tỷ.
Sau cổ phiếu bán ra do chính phủ NewZealand đòi hỏi trong một thảo hiệp mua hoàn tất vào tháng 9 năm 1993,      công ty sở hữu 24.8%. Cổ phiếu bán ra của New Zealan Telecom năm 1993đưa đến kết quả lợi sau thuế là $61.7 triệu .
Việc đầu tư dài hản của công ty vào New Zealand Telecom được coi như theo phương pháp tính giá theo giá trị ròng. Tài sản vô thể lối $290 triệu kết hợp với đầu tư được khấu trừ  theo phương pháp đường thẳng trong vòng 40 năm . Cá phần đầu tư  của công ty theo yêu cầu để bán thì được tính theo phương pháp định giá tổn phí (cost method) 
FASB Interpretation No 35 kể:
(1)    phản đối của bên được đầu tư thách thức ảnh hưởng của bên đầu tư 
(2)    nhường lại quyền cổ đông do thoả thuâncủa bên đầu tư và bên được đầu tư
(3)    tập trung hoá quyền cổ đông đa số (majority ownership)
(4)    những thông tin không thích hợp và không kịp thời để áp dụng phương pháp kế toán tính giá theo giá trị ròng và
(5)    thất bại không đoạt được quyền đại diện ban quản lý của bên được đầu tư như là dấu hiệu không có khả năng hành xử được quyền gây ảnh hưởng. 
Áp dụng phương pháp tính giá theo giá trị ròng nên gián đoạn khi trái phiếu (share of losses) của bên đầu tư làm giảm khoản tồn trử (carrying amount) của đầu tư xuống mức số 0.

>> Bài tập kế toán Mỹ


Cùng bình luận !