2019/05/11 Bình luận : Lượt xem: 1023
GIẢM 50% LỚP HỌC KẾ TOÁN THỰC HÀNH, TỔNG HỢP xem ngay
NHẬN GIA SƯ KẾ TOÁN THEO YÊU CẦU MỌI TRÌNH ĐỘ xem ngay
NHẬN LÀM DỊCH VỤ KẾ TOÁN TRỌN GÓI, LÀM BCTC xem ngay
Ký quỹ đóng góp là gì? Định nghĩa: Biên độ đóng góp, đôi khi được sử dụng như một tỷ lệ, là sự khác biệt giữa tổng doanh thu bán hàng của công ty và chi phí biến đổi.

Ký quỹ đóng góp là gì?

Nói cách khác, tỷ lệ đóng góp bằng với số tiền mà doanh thu vượt quá chi phí biến đổi. Đây là số tiền bán hàng có thể được sử dụng hoặc đóng góp để trả các chi phí cố định.

Khái niệm phương trình này dựa trên sự khác biệt giữa chi phí cố định và chi phí biến đổi. Chi phí cố định là chi phí sản xuất vẫn giữ nguyên khi nỗ lực sản xuất tăng lên. Chi phí biến đổi, mặt khác, tăng theo mức độ sản xuất.

Biên độ đóng góp đo lường mức độ hiệu quả của một công ty có thể sản xuất sản phẩm và duy trì mức chi phí biến đổi thấp. Nó được coi là một tỷ lệ quản lý bởi vì các công ty hiếm khi báo cáo lợi nhuận cho công chúng. Thay vào đó, quản lý sử dụng tính toán này để giúp cải thiện các quy trình nội bộ trong quy trình sản xuất.

Công thức
Công thức ký quỹ đóng góp được tính bằng cách trừ tổng chi phí biến đổi khỏi doanh thu bán hàng ròng.
Số tiền đóng góp = Doanh thu thuần - Chi phí biến đổi

Thành phần công thức ký quỹ đóng góp
Có hai thành phần chính trong phương trình ký quỹ đóng góp: doanh thu thuần và chi phí biến đổi. Chúng ta hãy xem xét từng cái.

Doanh thu thuần là gì?

Doanh thu thuần về cơ bản là tổng doanh số ít hơn bất kỳ lợi nhuận hoặc phụ cấp nào. Đây là số tiền ròng mà công ty dự kiến ​​sẽ nhận được từ tổng doanh số của mình. Số doanh thu này có thể dễ dàng được tìm thấy trên báo cáo thu nhập. Một số báo cáo thu nhập báo cáo doanh thu thuần là con số bán hàng duy nhất, trong khi những người khác thực sự báo cáo tổng doanh thu và thực hiện các khoản khấu trừ cho lợi nhuận và phụ cấp. Dù bằng cách nào, con số này sẽ được báo cáo ở đầu báo cáo thu nhập.

Chi phí biến đổi là gì?

Chi phí biến đổi là chi phí tăng tỷ lệ thuận khi doanh thu hoặc hoạt động tăng. Một ví dụ tốt về điều này là nguyên liệu thô. Là một nhà sản xuất sản xuất nhiều đơn vị hơn, đương nhiên sẽ cần nhiều vật liệu hơn. Do đó, chi phí vật liệu thay đổi theo mức độ sản xuất. Khi sản xuất tăng, chi phí vật liệu tăng. Khi sản xuất giảm, chi phí vật liệu giảm. Các ví dụ khác về chi phí biến đổi bao gồm:

Chi phí vận chuyển
Hoa hồng bán hàng
Tiện ích
Chi phí nhân công
Sản xuất vật tư
Chi phí biến đổi thường không được báo cáo trên báo cáo tài chính cho mục đích chung là một danh mục riêng. Do đó, bạn sẽ cần quét báo cáo thu nhập để biết chi phí biến đổi và kiểm đếm danh sách. Một số công ty phát hành báo cáo thu nhập biên đóng góp phân chia chi phí biến đổi và chi phí cố định, nhưng điều này không phổ biến.

Sự khác biệt giữa chi phí biến đổi và chi phí cố định là gì?

Sự khác biệt giữa chi phí cố định và chi phí biến đổi có liên quan đến mức độ tương quan của chúng với mức sản xuất của một công ty. Như chúng tôi đã nói trước đó, chi phí biến đổi có mối quan hệ trực tiếp với mức sản xuất. Khi mức độ sản xuất tăng, do đó, chi phí biến đổi và ngược lại. Đây không phải là trường hợp với chi phí cố định. Chi phí cố định giữ nguyên cho dù mức độ sản xuất là bao nhiêu. Lấy tiền thuê chẳng hạn. Không quan trọng có bao nhiêu đơn vị được sản xuất. Thuê sẽ luôn như vậy.

Hãy xem xét một ví dụ.

Thí dụ
Casey nợ và điều hành một nhà máy sản xuất làm cho grommets vật lộn. Trong năm qua, Casey có doanh thu 1.000.000 đô la và các chi phí biến đổi sau:

Chi phí vận chuyển: 100.000 đô la
Tiện ích: 50.000 đô la
Lao động chi phí 400.000 đô la
Vật tư sản xuất: 300.000 USD
Đây là cách tính biên độ đóng góp của công ty anh ấy.

Ví dụ ký quỹ đóng góp

Như bạn có thể thấy, Casey có CM $ 150.000. Điều này có nghĩa là anh ta có 150.000 đô la để đưa vào chi phí cố định của mình. Phần còn lại của khoản ký quỹ sau khi chi phí cố định đã được thanh toán là lợi nhuận của công ty. Vì vậy, hãy giả sử rằng chi phí cố định của Casey bao gồm:

Giá thuê: 50.000 USD
Bảo hiểm: 35.000 đô la
Thuế tài sản: $ 20.000

Tổng chi phí cố định của Casey bằng 105.000 đô la. Điều này có nghĩa là việc sản xuất các grommets vật lộn tạo ra doanh thu đủ để trang trải chi phí cố định và vẫn để lại cho Casey khoản lãi 45.000 đô la vào cuối năm.


Số tiền đóng góp được sử dụng để làm gì?
Quản lý sử dụng tỷ lệ đóng góp dưới nhiều hình thức khác nhau cho các quyết định sản xuất và giá cả trong doanh nghiệp. Khái niệm này đặc biệt hữu ích cho quản lý trong việc tính điểm hòa vốn cho một bộ phận hoặc một dòng sản phẩm. Ban quản lý sử dụng số liệu này để hiểu mức giá nào họ có thể tính cho một sản phẩm mà không mất tiền khi sản xuất tăng và quy mô tiếp tục. Nó cũng giúp quản lý hiểu sản phẩm và hoạt động nào có lợi nhuận và dòng hoặc bộ phận nào cần phải ngừng hoặc đóng cửa.

Quản lý cũng có thể sử dụng tính toán này cho mục đích quản lý thu nhập. Ví dụ: nếu quản lý có mục tiêu lợi nhuận cụ thể cần đạt được trong năm tới, họ có thể sử dụng công thức CM để tính toán mô hình định giá sản phẩm sẽ giúp họ tăng lợi nhuận.

Các nhà đầu tư và phân tích sử dụng tỷ lệ đóng góp để đánh giá hiệu quả của công ty trong việc tạo ra lợi nhuận. Ví dụ, các nhà phân tích có thể tính toán mức ký quỹ trên mỗi đơn vị được bán và sử dụng các ước tính dự báo cho năm tới để tính lợi nhuận dự báo của công ty.

Tỷ lệ đóng góp cao so với thấp
Biên độ cao hầu như luôn là một dấu hiệu tốt hơn so với mức ký quỹ thấp bởi vì điều này có nghĩa là một trong hai điều: chi phí biến đổi của công ty rất thấp hoặc công ty có thể bán sản phẩm của mình với giá cao hơn nhiều so với chi phí biến đổi. Cả hai kịch bản đều thuận lợi vì nó cho thấy công ty có thể tạo ra đủ doanh thu để trả chi phí biến đổi và sẽ có tiền để trang trải chi phí cố định.

Lợi nhuận thấp thường có nghĩa là công ty, dòng sản phẩm hoặc bộ phận không sinh lãi. Điều này có thể được gây ra bởi một số trường hợp khác nhau. Ví dụ, giá thép có thể đã tăng. Một sự gia tăng như thế này sẽ có hiệu ứng gợn sóng khi sản xuất tăng. Quản lý phải cẩn thận và phân tích lý do tại sao CM thấp trước khi đưa ra bất kỳ quyết định nào về việc đóng cửa một bộ phận không có lợi hoặc ngừng sản phẩm, vì mọi thứ có thể thay đổi trong tương lai gần.

Quản lý cũng nên sử dụng các biến thể khác nhau của công thức CM để phân tích các bộ phận và dòng sản phẩm trên cơ sở xu hướng như sau.

Ký quỹ đóng góp trên mỗi đơn vị
Việc quản lý cũng thường tính toán tỷ lệ đóng góp trên mỗi đơn vị. Công thức này cho thấy mỗi đơn vị được bán đóng góp bao nhiêu vào chi phí cố định sau khi chi phí biến đổi đã được thanh toán.

Ký quỹ đóng góp trên mỗi đơn vị

Số liệu này thường được sử dụng để tính điểm hòa vốn của quy trình sản xuất và đặt giá của sản phẩm. Họ cũng sử dụng điều này để dự báo lợi nhuận của các con số sản xuất được dự toán sau khi giá đã được đặt.

Tỷ lệ ký quỹ đóng góp
Tỷ lệ ký quỹ đóng góp lấy khái niệm tỷ lệ đóng góp trên mỗi đơn vị được sản xuất và tính toán theo tỷ lệ phần trăm của giá bán trên mỗi đơn vị. Điều này cho thấy tỷ lệ phần trăm doanh thu được tạo thành từ tỷ lệ đóng góp.

Tỷ lệ ký quỹ đóng góp

Kế toán quản lý cũng sử dụng tỷ lệ ký quỹ đóng góp để tính điểm hòa vốn trong phân tích hòa vốn.

Báo cáo thu nhập
Báo cáo thu nhập biên đóng góp phân tách chi phí cố định và chi phí biến đổi trên mặt báo cáo thu nhập. Điều này làm nổi bật lề và giúp minh họa nơi chi phí của công ty. Chi phí biến đổi có thể được so sánh qua từng năm để thiết lập xu hướng và cho thấy lợi nhuận bị ảnh hưởng như thế nào.


Cùng bình luận !